“Một kỷ niệm về nhà thơ Lưu Trọng Lư” của nhà thơ Huy Cận

Nhà thơ Huy Cận và Lưu Trọng Lư là những tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỷ XX, đồng thời là hai gương mặt hàng đầu của phong trào Thơ mới. Cùng sống, sáng tác và trưởng thành trong những năm tháng nhiều biến động của lịch sử dân tộc, hai nhà thơ không chỉ đồng hành trên con đường nghệ thuật mà còn có mối quan hệ gắn bó thân thiết trong đời sống.

Nhà thơ Lưu Trọng Lư

Bảo tàng Văn học Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Huy Cận, ghi lại một kỷ niệm đáng nhớ về nhà thơ Lưu Trọng Lư khi sống chung cùng nhau vào năm 1940.

Nhà thơ Huy Cận

“Lúc đó (1940) tôi và anh Lư cùng sống ở số nhà 40 Hàng Than, HàNội. Tôi ở trên gác cùng một số người bạn sinh viên, anh Lư ở dưới nhà với chị Lư (tức là chị Thanh Thủy, người vợ đầu của anh) và cháu Hải. Lúc này anh Xuân Diệu đã vào Mỹ Tho làm tham tá nhà Đoan. Một chiều thứ sáu tháng 10 (hoặc tháng 9) tôi vừa đi học ở trường đại học về, vừa đặt chiếc xe đạp ở cầu thang, đang lên gác, thì anh Lư bước vội lên gọi tôi “Huy Cận ơi! Hay lắm, thú lắm! Đi ngay với mình.”

– Cái gì thế?
– Bài thơ “Tràng giang” của cậu được đăng báo “Ngày nay”, hay tuyệt!
– Thế à? Tôi chưa được xem báo…

– Đăng rồi! Chiều nay, ông Ngô Tất tố cùng xem với bọn mình, ông Tố rất khoái và thốt lên: “Giọng thơ Đường, thịnh Đường, mà hay hơn thơ Đường!”…
Tôi nói:
– Ồ, thế thì thích quá…
Anh Lư rủ tôi: “Bây giờ Cận đi với mình đến hiệu Xuân Nghi (phố Hàng Quạt) ăn bữa phở ngon, mừng bài thơ của Huy Cận”. Tất nhiên là tôi đi, với cái phấn khởi trong lòng, được bạn thơ tán thưởng, cổ vũ mình, và với cơn đói nữa, vì trưa hôm ấy tôi ở lại trường, không về ăn cơm trưa ở Pôpốt. Hai anh em đạp xe đến hiệu Nghi Xuân, anh Lư dõng dạc gọi phở tái gầu, rồi lại phở xào với cải làn…Anh Lư có tí rượu, còn tôi thì không uống được rượu, chỉ uống nước chè, Anh Lư vừa ăn vừa bình luận thêm bài “Tràng giang”, anh say sưa bàn như là thơ của anh, tôi nghe cảm động. Rồi chúng tôi bàn đến nền thơ nói chung, bàn đến cái hay của Tiếng Việt, đến cái cô đọng của thơ phương Đông…Rồi anh Lư gọi người hầu bàn tính tiền để anh trả. Anh sờ túi ngoài, cả túi trong của áo vét tông cũng không có…Thì ra anh quên mang tiền, theo tính đãng trí “truyền thuyết” của anh (người ta còn bảo anh quên cả số con của mình!). May mà tôi vừa lãnh học bổng, nên không phải chịu nợ hiệu phở “Nghi Xuân”.

Rồi hai anh em vẫn chưa hết cơn hào hứng, anh Lư rủ tôi đi thăm chùa Bích Câu, gần Văn Miếu. Tôi nhớ tối hôm ấy trăng mờ, trăng lu thì đúng hơn, cái ánh trăng rất hợp với việc khêu gợi những truyện xưa, những truyền thuyết dân gian, rất hợp với những câu chuyện tình nửa trần, nửa tiên Bích Câu kỳ ngộ. Hai chúng tôi dạo hồi lâu trong sân chùa, đọc thơ xưa, thơ nay, càng thấy cái hồn xưa của cha ông đẹp quá. Tôi nhớ tôi còn đọc cho anh Lư nghe bài thơ “Hồn xa” của tôi trong đó có mấy câu.

Tự buổi tiên đi, sầu cũng nhỏ
Nhân gian thôi nhớ chuyện trên trời
Đại bàng vỗ cánh muôn năm trước
Ai biết trời xưa rộng mấy khơi…

Bích Câu đâu nữa bóng chàng Uyên
Sông núi thô sơ bặt tiếng huyền
Có lẽ hồn ta không đẹp nữa
Nét thần thôi họa bức thiên duyên.

Anh Lư và tôi còn ở chung nhà Hàng Than một năm nữa. Cũng cuối năm 1940, anh cho ra tập thơ “Tiếng thu”, và tôi cho ra tập “Lửa thiêng”, hai anh em cùng mừng cho nhau đứa con đầu của sự nghiệp văn chương (con đầu về thơ, vì anh đã cho ra tập “Người sơn nhân” từ năm 1933).”

Tư liệu hiện lưu giữ tại Bảo tàng Văn học Việt Nam.

Bảo tàng Văn học Việt Nam