Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Hữu Mai (20/7/1926 – 20/7/2026)
Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh nhà văn Hữu Mai (20/7/1926 – 20/7/2026), Bảo tàng Văn học Việt Nam trân trọng tưởng nhớ và thành kính tri ân những đóng góp to lớn của ông đối với nền văn học nước nhà.
Cùng với sự tri ân đó, Bảo tàng Văn học Việt Nam xin trân trọng giới thiệu tới quý bạn đọc bài viết “Cha, người thầy suốt đời của tôi” của nhà thơ Hữu Việt (con trai nhà văn). Bài viết là những hồi ức chân thành, giàu cảm xúc về người cha, người thầy và một nhân cách lớn, qua đó góp phần giúp bạn đọc hiểu thêm về cuộc đời, con người và di sản tinh thần mà nhà văn Hữu Mai để lại.
Chân dung nhà văn Hữu Mai.
“Tôi may mắn được sống với cha mẹ từ khi sinh ra cho tới lúc đưa tiễn hai ông bà về nơi an nghỉ cuối cùng. Ngoại trừ những năm sơ tán trong chiến tranh chống Mỹ và 5 năm du học ở nước ngoài thì tôi luôn ở dưới một mái nhà cùng cha mẹ. Nên kể cả sau này có không trở thành nhà thơ, thì cha vẫn là người thầy suốt đời của tôi.
Cha tôi sinh năm 1926, tên khai sinh là Trần Hữu Mai, quê gốc ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là Ninh Bình). Mộ tổ của dòng họ Trần Hữu hiện vẫn ở đây. Chi họ cha tôi chuyển từ Lý Nhân lên thành phố Nam Định được ba đời. Những năm trước cách mạng, gia đình ông nội tôi rất túng thiếu. Ông nội thường mất việc, luôn luôn phải đi tìm việc làm mới ở Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Dương, Quảng Ninh… trong những công ty tư nhân của người Pháp. Cha tôi sinh ra ở Thanh Hóa sau đó được gửi về nhà ở Nam Định, nên lý lịch quê hương bản quán ông là thành phố Nam Định. Ngày nhỏ, ông nhận được sự dạy bảo của ông nội, vốn là người hay chữ, hành nghề chữa bệnh Đông y. Có lẽ năng khiếu và đam mê văn chương của cha tôi đã được hình thành từ đây.
Đầu những năm 1940, vì cuộc mưu sinh, ông nội tôi chuyển cả gia đình lên Hà Nội. Nhắc về thời kỳ này, cha tôi ví gia đình mình “trôi dạt như một con thuyền” trong cảnh lầm than của người dân mất nước.
Ở Hà Nội, cha tôi tiếp tục theo học bậc Thành chung (tương đương với trung học cơ sở bây giờ), vừa đi học, ông vừa làm gia sư để có thêm chút tiền chi tiêu. Ông đã có những rung động đầu đời với một “học trò” dạy kèm, sau này ông đã lấy tên bà đặt tên cho nhân vật nữ chính trong tiểu thuyết Vùng trời. Cách mạng tháng Tám thành công, rồi toàn quốc kháng chiến, gia đình cô học trò di cư vào Nam, họ chỉ gặp lại nhau sau năm 1975, khi nước nhà thống nhất. Tôi có nhìn thấy bà trong ảnh, đó là một phụ nữ mang những nét đẹp hiền hậu mà quý phái.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà văn Hữu Mai
Hà Nội nổ phát súng mở đầu kháng chiến chống Pháp, như phần lớn học sinh, sinh viên Hà Nội thời đó, cha tôi vào tự vệ thành, chiến đấu tại Liên khu 2. Sau khi quân ta rút khỏi Thủ đô một thời gian, ông nhập ngũ, bước vào cuộc trường chinh 9 năm của quân đội và nhân dân cả nước. Đầu năm 1948, ông công tác tại Phòng chính trị Trung đoàn 17, Đại đoàn 308, phụ trách tờ báo Quân Tiên Phong của đại đoàn.
Nghiệp cầm bút của anh bộ đội Hữu Mai chính thức bắt đầu từ đây. Vì làm báo, được dự hầu hết các chiến dịch lớn, ông bắt đầu suy nghĩ và dự định sẽ dành cả cuộc đời để viết về người lính, về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Ông cũng quyết định chuyển hẳn từ thơ sang văn xuôi vì nhận thấy thơ là một ân huệ trời ban, càng tìm càng mất. Quan trọng hơn, thơ không chứa đựng được những tư liệu đầy ắp trong cuộc sống chiến đấu ông đã thu thập.
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cha tôi về công tác tạp chí Văn nghệ Quân đội của Tổng cục Chính trị, và bắt đầu tập trung sáng tác. Năm 1957, ông tham gia Đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, chính thức trở thành người viết chuyên nghiệp. Ông đã viết đều và khá nhiều, đến nay để lại hơn 60 đầu sách, trong đó có một số dấu mốc mà giới văn học thường nhắc tới.
Cuốn sách đầu tay của ông bị từ chối có lẽ là dấu mốc nặng nề nhất trên chặng đường đến với văn chương của cha tôi. Những năm kháng chiến chống Pháp, ông viết cuốn tiểu thuyết và nộp cho người được giao kèm cặp mình là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Đọc bản thảo xong ông Tưởng đã khuyên cha tôi nên tập trung cho nghề báo, không nên theo nghề văn vì không có khả năng. Nghe thế, cha tôi đã vô cùng buồn bã, thất vọng.
Nhà văn Hữu Mai và nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ
Ông đã im lặng trong khoảng 5 năm, hầu như không viết gì trước khi đặt bút viết tiểu thuyết Những ngày bão táp, năm 1957. Ông hồi hộp mang bản thảo đến gặp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Sáng hôm sau, ông Tưởng nhắn ông lên gặp. Ông Tưởng nói: “Vợ chồng tôi đã đọc bản thảo suốt đêm. Tôi ký thẩm định rồi đây, anh đưa sang nhà xuất bản nhé! Nhân đây, tôi chính thức rút lại lời khuyên trước kia của tôi!”.
Những ngày bão táp, cuốn sách chưa từng có trong dự kiến của ông, viết về sai lầm trong cải cách ruộng đất, những bão táp trong đời sống nông thôn. Đề tài nhạy cảm này suýt nữa gây bão táp cho khởi đầu văn nghiệp của ông, thật may, rồi tất cả cũng qua đi.
Dấu mốc thứ hai là tiểu thuyết Cao điểm cuối cùng, đã mang lại chỗ đứng vững chãi cho ông với tư cách nhà văn viết tiểu thuyết. Theo nhà lý luận phê bình Đinh Xuân Dũng thì “cùng với Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Trước giờ nổ súng của Lê Khâm… Cao điểm cuối cùng thể hiện bước tiến vượt bậc tư duy sáng tạo của nhà văn Việt Nam trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại”.
Gia đình nhà văn Hữu Mai
Dấu mốc tiếp theo là bộ tiểu thuyết Vùng trời 3 tập về bộ đội không quân Việt Nam, ông viết trong vòng tám năm, được bạn đọc hồ hởi đón nhận còn hơn cả Cao điểm cuối cùng. Vùng trời mang chất sử thi, chất lãng mạn, bay bổng, anh hùng của người lính bay bảo vệ bầu trời Tổ quốc. Vẻ đẹp của tình yêu, lòng quả cảm, anh dũng, sự trong sáng, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ, nên không cần tô vẽ vẫn truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ thanh niên khát vọng noi theo, chinh phục và bảo vệ bầu trời Tổ quốc.
Một dấu mốc nữa là bộ ba tiểu thuyết Ông cố vấn về nhà tình báo chiến lược Vũ Ngọc Nhạ. Có thể nói tác phẩm này đã đem lại sinh khí mới cho thể loại tiểu thuyết tư liệu, khi sự thật lịch sử được tôn trọng tối đa trên đôi cánh của văn chương. Sách ra đời, trong vòng một năm, hầu như tuần nào ông cũng được mời đi nói chuyện trong Nam, ngoài Bắc; có ngày 2 ca về tác giả, tác phẩm. Ông cố vấn được phát hành trên bốn trăm ngàn bản/năm là một hiện tượng xuất bản hiếm có thời bấy giờ. Vì lý do này, năm 1989, cha tôi đã được mời đi dự Đại hội thành lập “Hiệp hội những nhà văn viết truyện trinh thám thế giới” lần thứ nhất tổ chức tại Mexico, mặc dù ông chỉ mới có một tác phẩm đầu tiên được coi là thuộc thể loại này.
Có một dấu mốc không thể không nhắc tới, đó là ông đã giúp Đại tướng Võ Nguyên Giáp thể hiện 5 tập hồi ký về chiến tranh chống Pháp, từ khi Quân đội ta thành lập cho tới khi làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đó là: Từ nhân dân mà ra, Những năm tháng không thể nào quên, Chiến đấu trong vòng vây, Đường tới Điện Biên Phủ và Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử. Đây là một công trình tổng kết về chiến tranh của vị tướng đứng đầu Quân đội Nhân dân Việt Nam. Làm công việc này phải dày công nghiên cứu toàn bộ tiến trình chiến tranh ở cả hai phía ta và địch, dựa trên những văn bản, những nhân chứng sống, phát hiện những vấn đề mới để có những đóng góp thực sự với lịch sử. Ngoài tính khoa học, tính chân xác và giá trị tổng kết, bộ sách còn phải mang cách cảm, cách nghĩ, tầm nhìn, văn phong… của Đại tướng.
Bắt đầu làm việc với Đại tướng từ năm 1965 nhân dịp kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và thể hiện cuốn sách đầu tiên Một vài hồi ức về Điện Biên Phủ, phải 35 năm sau, tức là đến năm 2000, cuốn sách cuối cùng mới hoàn thành. Cha tôi nhiều lần nói rằng, ông đã dành một nửa sự nghiệp văn chương của mình cho bộ sách ấy. Có thể gọi đây là “mối duyên nợ văn chương” (chữ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) đặc biệt giữa một nhà văn và một vị tướng.
Cuối tháng 9 năm 2025, thành phố Điện Biên đã tổ chức lễ gắn tên đường nhà văn Hữu Mai tại phường Mường Thanh. Đường Hữu Mai tiếp nối với đường Võ Nguyên Giáp, là một trong những tuyến đường chính tại Điện Biên.
*
Sống trong gia đình văn chương, anh em chúng tôi ít nhiều có đôi chút năng khiếu hoặc thiên hướng nào đó. Tuy vậy, cha tôi chưa bao giờ định hướng hay khuyến khích các con viết văn hoặc trở thành nhà văn. Ngày còn là sinh viên, tôi gửi thư riêng cho cha, chia sẻ mong muốn sau này sẽ viết, ông trả lời rất thận trọng: “Con cứ tiếp tục suy nghĩ. Viết văn mà chỉ trở thành một người viết trung bình thì cuộc đời sẽ buồn lắm”.
Khi tôi đã dấn sâu sâu vào thơ, ông lặng lẽ tìm thầy cho tôi. Đầu tiên ông gửi tôi cho nhà thơ Khương Hữu Dụng, nhờ cụ thẩm giúp xem tôi có làm thơ được không và dạy cho tôi biết thơ là gì. Sau đó, qua nhà thơ Khương Hữu Dụng, ông nhờ nhà thơ Lê Đạt dạy tôi thế nào là thơ và làm thơ thế nào. Tôi đã nhận được sự chỉ dạy hết lòng của hai người thầy ấy là vì ông chứ không phải vì tôi.
Toàn tập của nhà văn Hữu Mai
Nhưng người thầy đầu tiên và người thầy cuối cùng của tôi, vẫn là cha tôi. Trừ những lúc bận viết, khi nào rảnh ông thường gọi: “Thằng Việt ngồi đây, bố bảo cái này…”. Tất cả việc văn, việc đời, chuyện nhân tình thế thái, chuyện lòng dạ con người, ngày ngày tháng tháng ngấm vào tôi như thế.
Cha để lại cho tôi biết bao bài học, nhưng trên hết là tấm gương lao động nhà văn. Cả đời, công việc duy nhất của ông là viết. Ngày chưa có máy vi tính, ông viết tay. Đến bây giờ chúng tôi vẫn còn giữ hàng trăm trang bản thảo nguyên nét mực của ông. Hồi tôi thi vào đại học, có những đêm hai cha con ngồi chung một cái bàn, cha thì viết Vùng trời tập III, con thì ôn thi, hai cha con chia đôi cốc sữa đặc Ông thọ để kiến đỡ bò bụng.
Khi còn đi làm công ty, anh em hay chơi xổ số, tôi cũng đua theo. Hôm nào trên đường đi làm về đều mua vài cặp vé, trước chương Trình thời sự 7 giờ tối, kiểu gì cũng ngồi trước màn hình tivi hóng kết quả. Ông để ý, sẽ sàng bảo: “Con à, bố với mày giống nhau, muốn đạt được cái gì, đều phải làm rỏ máu mắt ra mới được!”. Từ đó tôi không bao giờ chơi xổ số nữa.
Ông là người giấu kín tình cảm cá nhân. Duy nhất một lần tôi thấy ông khóc, đó là khi bác tôi, anh trai của ông (nhà chỉ hai anh em trai), qua đời. Lúc nắp quan tài đóng lại, mới thấy hai hàng nước mắt ứa ra từ khóe mắt của ông và chỉ chảy tới giữa má. Sau này ông bảo, bác tôi mới là người có năng khiếu văn chương hơn ông, người đã truyền cho ông tình yêu văn chương, tiếc rằng vì lấn bấn chuyện gia đình nên bác tôi không viết được. Ngày mới xa nhà sang Liên Xô du học, tôi hay nhận được thư của mẹ, nhiều trang thư nhòe nước mắt bà; cha tôi ít viết thư, nhưng có một lá thư đến bây giờ tôi vẫn nhớ: “Hôm nay, bố dọn lại bàn con học, bố buồn mất một buổi chiều, không làm được việc gì …”.
Ngoài viết văn, thú vui duy nhất của ông là xem thể thao, và giống như nhiều nhà văn Việt Nam, ông mê bóng đá. Vào thời bao cấp khốn khó khi đất nước còn chiến tranh, ông đã giấu mẹ tôi, đổi một chiếc áo đại cán lấy tiền mua cho hai anh em tôi vé “chui” xem trận Thể Công đá với đội Ngôi sao thành Péc-mơ (của một nước xã hội chủ nghĩa). Đặc biệt 2 năm cuối đời, hầu như ông không bỏ qua bất cứ chương trình thể thao nước ngoài nào, đặc biệt là bóng đá và tennis, cho dù vì lệch múi giờ, hầu như chỉ xem vào lúc đêm khuya.
Cha tôi không phải là người thích hoa, nhà tôi trừ những ngày lễ cũng ít khi cắm hoa tươi. Nhưng cứ đến Tết, cha thường đưa tôi đi chợ hoa để mua hoa đào. Ông không chọn đào thế, chỉ mua duy nhất một kiểu cành đào “bu gà”. Tôi tò mò hỏi ông vì sao, ông bảo: Cành là một bông hoa đào lớn, bên trong có nhiều bông hoa đào nhỏ. Sau này khi tuổi đã cao, ông không đi mua hoa Tết nữa, nhưng trước thềm năm mới, bao giờ ông cũng dặn tôi mua đào cành.
Ai tiếp xúc lâu với ông mới biết ông là người vô cùng hài hước, nhưng hiền lành, rất ngại nhờ vả và vô cùng ngại làm phiền người khác. Trừ làm phiền mẹ, cha là người không chịu làm phiền bất cứ ai. Thời gian ông ốm mệt, có lần vợ tôi mua về cho ông 8 chiếc nem hải sản, món ăn lúc bình thường ông rất thích. Ông chỉ ăn được một cái gì đó nhưng đã “bắt” mẹ tôi phải ăn nốt những chiếc nem còn lại để con dâu vui lòng. Mẹ buồn cười quá, nhưng biết tính cha nên đã cố ăn số nem ấy. Ngày hôm đó bà không ăn được bữa tối.
Cha mẹ tôi sinh được bốn anh em chúng tôi, hai trai, hai gái xen kẽ nhau. Anh cả viết văn xuôi, lấy bút danh Bình Ca, là nickname trong nhà cha mẹ gọi để kỷ niệm nơi ông bà lần đầu tiên gặp nhau năm 1949, khi mẹ tôi mới 16 tuổi còn cha tôi 23. Phải 6 năm sau ông bà mới nên duyên vợ chồng. Mẹ tôi ngày trẻ là một phụ nữ xinh đẹp và sắc sảo nên có nhiều người theo đuổi. Mẹ nhận lấy cha tôi là nghe theo lời bà ngoại. Bà ngoại bảo: Thời buổi giặc giã thế này, làm đàn bà khổ lắm con ạ, sinh nở, bệnh tật chẳng biết thế nào. Lấy phải chồng hời hợt sẽ khổ cả đời. Mợ ưng anh kia, là người chân chất, thực thà, có thể tựa lưng vào cả đời. “Anh kia” là cha tôi.
Sau ngày mẹ qua đời, tôi tìm thấy những cuốn sổ bé tí bà để lại, chữ viết vội, nét mực mờ phai, nhiều chỗ phải vừa đọc, vừa đoán. Đó là nhật ký chung của cha và mẹ, nói chính xác hơn là những bức thư trao đổi giữa hai người. Sau ngày thực dân Pháp cút khỏi miền Bắc, họ vẫn chưa thực sự được ở gần nhau và đều rất bận công tác. Mỗi lần gặp gỡ, có lẽ chỉ đủ thời gian trao cho nhau cuốn nhật ký luân phiên, người này ghi rồi lại đến người kia. Tôi rất bất ngờ khi đọc những “lá thư” nồng nàn và vô cùng say đắm của cha mẹ. Ở cuối nhiều lá thư, mẹ viết “Gửi tới anh một nghìn cái hôn”. Câu ấy bây giờ nghe thì bình thường, nhưng hãy đặt vào thời điểm cách đây 70 năm mới hiểu mẹ yêu cha nhường nào!
Lấy cha có lẽ là việc mĩ mãn nhất đời mẹ. Mẹ đã đẻ cho cha những đứa con, đã cáng đáng hầu hết việc gia đình để cha thoải mái làm việc của mình, suốt ngày ngồi viết. Mẹ tự nguyện làm việc đó chân thành và tha thiết, không mảy may nghĩ suy. Trong những kỷ vật về cha tôi, mẹ giữ tất cả các thẻ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam của ông. Trước khi mẹ tôi đi vào cõi sương mù quên nhớ, bà bảo: “Tôi có là cái gì đâu, vì lấy bố anh, mà được tựa vào ông ấy, sau này còn có người nhớ tới”.
Ghi nhận những công lao đóng góp của nhà văn Hữu Mai đối với nền Văn học nghệ thuật nước nhà, năm 2000 ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học & Nghệ thuật đợt I, với các tiểu thuyết: “Cao điểm cuối cùng”, “Vùng trời”, “Ông Cố vấn”. Năm 2017, truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, đợt V.