Bài viết “Thanh Tịnh làm báo” của nhà văn Nguyễn Trọng Oánh đã khắc họa chân dung nhà văn Thanh Tịnh như một người cầm bút và làm báo đầy tâm huyết, luôn tận tụy với bạn đọc, đặc biệt là người chiến sĩ. Ở ông, tài năng gắn liền với quan niệm làm báo sâu sắc và nhất quán: viết cho ai, viết để làm gì.
Câu chuyện về quá trình làm báo tại “Văn nghệ Quân đội” đã cho thấy rõ tấm lòng, sự sáng tạo và trách nhiệm của nhà văn Thanh Tịnh đối với đời sống tinh thần của người lính trong những năm tháng chiến tranh.

“Vào khoảng năm 58, 59, tôi làm tổ trường tổ thơ của tạp chí “Văn nghệ Quân đội”. Lúc đó anh Thanh Tịnh làm thư ký toà soạn sau đó làm chủ nhiệm Tạp chí. Tổ thơ, tổ văn, và tổ lý luận, do chủ nhiệm phân công, từng thời gian, luân phiên nhau đi thực tế và ở nhà trực. Lúc bấy giờ chúng tôi mới bắt đầu tập làm báo, và tập viết văn. Anh Thanh Tịnh thường nói với chúng tôi (anh là nhà văn tiên chiến, lúc bấy giờ chúng tôi coi anh như bậc đàn anh, việc gì cũng nghe theo lời chỉ dẫn):
– Tờ báo của chúng tôi là tờ báo “Văn nghệ”, là văn nghệ nhưng lại là tờ báo của Quân đội, đã nói đến quân đội thì một đối tượng không thể không nhắc đến, ấy là chiến sỹ. Vì vậy, mà bài vở trình bày mọi thứ, nhất thiết phải chú ý đến đối tượng đó.
Từ quan điểm này, anh có chủ trương rất rõ ràng: mọi tiết mục, bài vở, trình bày, anh đều hướng theo một hướng nhất định. Mãi đến sau này, khi anh không còn làm chủ nhiệm nữa, anh vẫn nhắc tới điều đó. Một điệp ngữ anh hay dùng nhất là: “đãi cát tìm vàng”.

Hồi tôi làm biên tập thơ, có một hôm đưa thông qua bài với anh, anh lấy cái bút chì vót nhọn, gạch đít dưới hai câu thơ:
“Có một đêm đứng gác,
Giao trời lại cho nhau…”
Anh đọc đi đọc lại và khen mãi câu thơ này. Anh nói:
– Thơ chiến sĩ có những câu hay như thế đó, công việc này là công việc “đãi cát tìm vàng” Oánh ạ.
Trong những buổi đi nói chuyện thơ, anh đưa hai câu này làm ví dụ. Mãi cho đến sau này, tôi đã quên tác giả, quên cả hoàn cảnh biên tập bài thơ này, thì hai câu thơ đó vẫn còn với những buổi nói chuyện thơ của anh. Mà hai câu đó hay thật.
Rất nhiều người chiến sỹ khác cũng được anh ghi nhận những câu thơ, câu ca dao như vậy.
Lúc đó trên “Văn nghệ Quân đội”, thi thoảng lại có một bài điểm thơ. Anh Tịnh bảo chúng tôi lưu lại những câu thơ hay, những đoạn thơ hay về từng đề tài một: đề tài đấu tranh thống nhất, đề tài nông nghiệp, đề tài xây dựng công nghiệp.v.v…để ít lâu lại viết một bài “Điểm thơ” như thế. Thường hoặc tôi, hoặc Nguyễn Ngọc Tấn (lúc này Tấn cũng có thời kỳ phụ trách thơ) phải làm mục này, phải phân loại đề tài và đánh dấu những đoạn thơ hay, những câu thơ hay như đã nói.

Từ chủ trương vì đối tượng chiến sĩ đó, anh đặt ra và cố giữ cho được từng đề mục của tờ báo. Bao giờ chuẩn bị thông qua phần thơ, anh cũng hỏi tôi xem đã đủ hai trang ca dao chưa. Độc tấu thì không bao giờ để quá hai kỳ không có (vì một bài độc tấu hay khó kiếm). Nhưng hai trang ca dao thì nhất định phải có. Nếu chưa đủ thì phải tìm. Nếu tìm không được thì phải đặt. Nếu đặt không được thì phải tự làm. Có khi anh Thanh Tịnh tham gia làm ca dao với chúng tôi. Có khi chúng tôi phải lục trong đống hồ sơ cũ. Chính vì vậy mà trong một đoạn viết về Nguyễn Thi, tôi đã có nói đến việc anh Thi lưu trữ tài liệu như thế nào. Đây cũng là một thói quen làm báo từ hồi có anh Thanh Tịnh.
Cũng như ca dao, hồi đó “Văn nghệ Quân đội” có hai trang tranh đả kích. Phần này do anh Huy Toàn, hoạ sĩ và anh Hà Trí, người chịu trách nhiệm trình bày phụ trách. Số nào anh Thanh Tịnh cũng nhắc trước hai anh về mục này. Cũng có lần anh nghĩ là một ý mới về tranh đả kích và trao đổi với hoạ sĩ. Đối với anh, thì ca dao cũng như tranh đả kích, hai mục này không thể thiếu được.
Như trên đã nói, cũng vào thời anh Thanh Tịnh làm chủ nhiệm. Tạp chí còn một mục nữa là mục độc tấu. Số nào anh cũng nhắc tôi cố gắng tìm hiểu cho được một bài. Nếu bỏ thì chỉ bỏ một số chứ không bỏ hai. Theo anh, không phải người ta chỉ có đọc, mà người ta còn chọn những vở kịch, những độc tấu hay trong tạp chí để biểu diễn trong các buổi liên hoan đại đội. Có bài độc tấu, tức là thêm một tiết mục phục vụ chiến sĩ. Nhân nói đến chuyện độc tấu, tôi muốn nói thêm một chút về anh. Vốn là một người phục vụ quần chúng vô điều kiện, nên ở trong hoàn cảnh kháng chiến, không có giấy in sách, thiếu mọi phương tiện không tin đại chúng, anh nghĩ ra tiết mục độc đấu. Một tiết mục vừa hấp dẫn, vừa dễ biểu diễn, có thể phục vụ chỗ đông người cũng như chỗ ít người…
Hình thức độc tấu do anh sáng tác đã một thời gian dài là hình thức phục vụ rất được quần chúng ưa thích. Anh sáng tạo ra thể loại này từ khi anh còn phụ trách một đoàn văn công đi phục vụ địa phương. Tiết mục độc tấu đã một thời, và cho đến mãi tận bây giờ, được rất nhiều chiến sĩ và quần chúng cơ sở ưa thích.
Họ đã sáng tác, biểu diễn ở nhiều địa phương, dù thể loại này có đóng góp đắc lực cho công tác thông tin tuyên truyền đại chúng. Có nhiều người bắt chước anh phương pháp sáng tác cho đến phong cách biểu diễn. Anh Nguyễn Chí Thanh, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã có lần đến họp bàn viết toàn quân, khen ngợi những bài độc tấu đăng trong báo “Văn nghệ Quân đội” hồi đó với ý nghĩa nó đã bám sát phục vụ những nhiệm vụ chính trị trước mắt. Trong phần này, anh Thanh Tịnh đóng góp không nhỏ.
Đây chính là tấm lòng người làm báo của anh Tịnh. Tấm lòng với chiến sĩ, vì quần chúng đó thật đáng trân trọng. Cho đến những năm vào chiến trường, những kỷ niệm làm báo của anh Tịnh vẫn theo tôi. Ấy là những năm B2, tờ tạp chí “Văn nghệ Quân giải phóng B2” chúng tôi lúc đó lấy tờ tạp chí “Văn nghệ Quân đội” làm mẫu, bắt chước báo này từ hình thức đến nội dung. “Văn nghệ Quân đội” có hai trang ca dao, Tạp chí “Văn nghệ Quân giải phóng” cũng có hai trang ca dao, “Văn nghệ Quân đội” có hai trang tranh đả kích, tạp chí “Văn nghệ Quân giải phóng” cũng có hai trang tranh đả kích. Tạp chí “Văn nghệ Quân đội” thường hay có mục điểm thơ, “Văn nghệ Quân giải phóng” cũng có mục đó…Lúc đó, Nguyễn Thi phụ trách tờ báo này. Có hôm tôi bàn với anh.
– Bỏ hai trang đả kích và hai trang ca dao đi. Ở chiến trường tìm cho ra những mục này vất vả lắm.
Nguyễn Thi cười và trở lời tôi giống như anh Tịnh đã nói:
– Bộ đội họ thích ca dao, thích tranh đả kích, mình mới phải làm chứ? Ở đây làm gì có “Văn nghệ Quân đội”? Thôi ta chịu khó vậy…
Điều đó tôi quên đi. Sau khi Nguyễn Thi mất, tôi lại một lần nữa định bỏ hai trang ca dao và hai trang đả kích đi, lúc bấy giờ Thanh Giang, người cùng làm báo với tôi một lần nữa nhắc lại ý kiến giống như ý kiến Nguyễn Thi ngày xưa và ý kiến anh Thanh Tịnh nói với tôi ngoài Bắc. Từ đó, tôi không có ý nghĩ thay đổi những tiết mục này trong báo nữa. Tôi cũng bắt đầu làm giống như Thanh Tịnh, ngồi nghĩ ra những tranh đả kích cho hoạ sĩ Trần Đăng Linh, lúc đó là hoạ sĩ của tờ báo vẽ.
Tôi ngầm nghĩ và thấy ra rằng: Thì ra chủ trương làm báo của anh Tịnh có sức thuyết phục nhiều người và có ảnh hưởng lớn trong cả nước. Có thể điều đáng nói nhất trong đời làm báo của anh Tịnh là: Viết báo cho ai đọc? Viết để làm gì? Mãi cho đến khi gần mất, anh Tịnh vẫn là người tích cực hưởng ứng viết báo ở mục “Những việc cần làm ngày”. Về việc viết báo, anh không hề câu nệ – thể loại nào anh cũng viết, báo nào anh cũng viết”.
Tư liệu lưu tại Bảo tàng Văn học Việt Nam

