Phần thưởng với nhà thơ Trần Hữu Thung

Khoảng mùa hè năm 1998, nhà thơ Vương Trọng từ Tạp chí Văn nghệ Quân đội (Hà Nội) gọi điện nhờ tôi đánh đường ra Diễn Minh (huyện Diễn Châu) gặp cho được nhà thơ Trần Hữu Thung để hỏi chuyện, viết bài về ông. Cụ thể là về bài thơ “Thăm lúa” nổi tiếng của thơ ca Việt Nam thời kháng Pháp.

Thời gian đó, nhà thơ Trần Hữu Thung đang mang bệnh, gầy teo tóp, đi lại nói năng đã thấy khó khăn. Chị Phương đang nấu ăn sau bếp, bảo tôi là anh Thung đang ốm lắm, chú có ra trò chuyện thì nên ngắn gọn thôi. Tôi nắm bàn tay “nhà thơ Thăm lúa” mà rưng rưng xúc động, linh cảm về một điều chẳng lành sau đó.

Quả thật, khi nêu mục đích tìm hiểu thêm về bài thơ “Thăm lúa” do anh Vương Trọng nhờ, ông nhìn ra xa, phía cánh đồng lúa trước nhà, một thoáng mỉm cười, nói: Chuyện này họ viết cũng đã nhiều rồi. Mấy hôm nay mình mệt, có lẽ hẹn Hùng một hôm khác, kéo thêm bạn bè đến đây, rồi thong thả ta học chuyện… Thấy ông nói phải, tôi lái sang thăm hỏi ông đôi điều, rồi xuống bếp chuyện với chị Phương hồi lâu trước khi chào ông bà ra về.

Nhà thơ Trần Hữu Thung (trái) và Võ Văn Trực cùng quê Diễn Châu

Trong số những bạn văn của ông Thung, gần gũi thân thiết nhất có lẽ phải kể tới nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo. Cùng quê Diễn Châu, ngôi làng của hai nhà thơ này chỉ cách nhau con sông Bùng. Bên này là Diễn Minh, bên kia sông là Diễn Hoa. Có lần, anh Tạo kể cho nghe mấy mẩu chuyện về nhà thơ Trần Hữu Thung đã thành giai thoại văn học. Ông được bà con, bạn đọc thân tình gọi là “Ông thăm lúa”. Một lần đi săn trên núi Cấm vào ban đêm, ông bắn lầm phải con trâu của hợp tác xã. Ban chủ nhiệm bắt phạt, nhưng khi lập biên bản, hỏi tên mới biết “tội phạm” là tác giả bài thơ “Thăm lúa”. Thế là người ta thịt cả con trâu đãi rượu ông.

Một hôm khác, nhà thơ đang gồng mình đạp xe vượt qua truông thì bị hai tên cướp xông tới trấn lột, và lấy được một cuốn sổ tay. Khi mở sổ ra, đọc thấy ghi tên Trần Hữu Thung, cả hai tên cướp liền thay đổi thái độ, vui vẻ đẩy xe cho nhà thơ vượt dốc… Chuyện về ông Thung ở quê, tham gia kháng chiến, sang Liên Xô học hỏi, về Hà Nội làm việc, xung phong trở vào tuyến lửa Nghệ An gây dựng phong trào văn nghệ, thành lập Hội Văn nghệ Nghệ An (1967, thực ra ban đầu là Chi hội); chuyện xã cho xe công nông vào tận Vinh đón ông về tham gia hội vật dành thắng lợi cho xã nhà, chuyện ông lãnh đạo Hội, “cầm cân nẩy mực” một số vụ việc rất phức tạp trong làng văn địa phương… Có kể cả buổi cũng không hết. Những câu chuyện đời thường, dung dị, hóm hỉnh, giàu đạo lý ở đời cứ thế được lưu truyền, lâu ngày thành giai thoai văn học, làm lung linh thêm cho nhân vật có thật.

Không hiểu sao nhiều thập kỷ lại đây, giai thoại văn học ít dần, hiếm dần, đến nay gần như tắt lịm. Có thể, do thông tin bây giờ nhiều và nhanh hơn trước, chẳng cần đến thứ “văn học truyền mồm” nữa. Nhưng, lý do đó theo tôi chỉ thứ yếu. Cái quan trọng nhất là những nhân vật tầm vóc như ông Thung không còn nữa, không khí văn chương nhuốm ý vị thiêng liêng, lung linh giờ đã “chết” hẳn, nhường chỗ cho các “quan hệ”, những gì “rạch ròi”, dễ “đong đếm” được cụ thể. Khi màu sắc huyền thoại, thiêng liêng không còn nữa thì giai thoại văn học cũng hết vai trò, hết chỗ đứng.

Phần thưởng lớn nhất đối với nhà thơ Trần Hữu Thung (1923 – 1999) trước hết, trên hết chưa phải là những huân, huy chương, các giải thưởng, khen thưởng treo trên tường nhà hay đã cất kỹ trong tủ, trong chum. Mà đó chính là tình cảm, những giai thoại văn học còn được nâng niu, truyền nhau qua các thế hệ khi họ đem lòng yêu mến, kính trọng một nhà thơ của mình?!

NGUYỄN VĂN HÙNG

Theo nguồn: https://vanvn.vn/phan-thuong-voi-nha-tho/