Giáo sư, soạn giả tuồng HOÀNG CHÂU KÝ (1921 – 2008)

1. Tiểu sử:

Giáo sư, Hoàng Châu Ký sinh ngày 16 tháng 05 năm 1921 tại làng Kim Bồng, Hội An, (nay là xã Cẩm Kim), thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội viên sáng lập  Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957. Ông mất ngày 31 tháng 01 năm 2008 tại Đà Nẵng.

2. Quá trình công tác:

Nhà văn, Giáo sư, soạn giả tuồng Hoàng Châu Ký làm công tác Đảng nhiều năm, làm thơ. Năm 1950, phụ trách Phân Hội Văn nghệ Quảng Nam, Trưởng tiểu ban giáo dục Tỉnh uỷ. Năm 1951, Ủy viên thường vụ Chi Hội Văn nghệ Liên khu V, phụ trách sân khấu. Năm 1954, tập kết ra Bắc làm Trưởng phòng Văn hoá quần chúng (Vụ Nghệ thuật Bộ Văn hoá), Tổng thư ký, Bí thư Đảng đoàn Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Sau khi học 18 tháng trường Nguyễn Ái Quốc về làm Hiệu trưởng trường Sân khấu rồi Viện trưởng Viện Sân khấu, Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Đà Nẵng. Giáo sư Nghệ thuật học (ngành sân khấu), năm 1992 về hưu tại TP Đà Nẵng.

3. Tác phẩm:

Giáo sư Hoàng Châu Ký là một nhà nghiên cứu tuồng hàng đầu. Ông là tác giả nhiều công trình nghiên cứu nghệ thuật tuồng như:

– Khảo cứu về vở Nghêu, Sò, Ốc, Hến (1961);

– Sơ thảo lịch sử nghệ thuật tuồng(1973);

– Tuồng cổ (1976);

– Nghiên cứu và hiệu đính văn bản (1978);

– Tuồng – Hát bội và bản sắc sân khấu truyền thống Việt Nam;

– Nghệ thuật biên kịch tuồng;

– Nghệ thuật biểu diễn Tuồng;

– Nghệ thuật Tuồng cung đình;

– Tuồng Quảng Nam;

– Mấy điều cơ bản trong biên dịch Tuồng;

– Giá trị của vở tuồng Nghêu Sò Ốc Hến;

– Bình về nghêu sò ốc hến (viết chung với Phan Sỹ Phiên);

– Ba mươi năm sân khấu Việt Nam (viết chung với Thế Lữ);

– Từ điển nghệ thuật Hát bội Việt Nam (Đồng tác giả cùng giáo sư Nguyễn Đức Lộc);

– Từ điển nghệ thuật hát bội Việt Nam (đồng tác giả cùng Giáo sư, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Lộc, con rể ông);

– Tổng tập Văn học Việt Nam, Tập 15A (dành riêng cho kịch bản Tuồng, 1994).

Ông cũng là một nhà soạn giả nhiều vở tuồng nổi tiếng. Ông là tác giả của  hơn 20 kịch bản, tiêu biểu là các vở tuồng:

– Đường về Vụ Quang;

– Lại sáng màu cờ (Khi công diễn đổi thành Quay súng trở về);

– Cao Doãn;

– Úm ba la (tuồng hát);

Từ năm 1975 sau khi nước nhà thống nhất, do thế mạnh của nghệ thuật tuồng là các đề tài lịch sử nên ông đã viết các vở tuồng:

– Nguyễn Huệ;

– Quang Trung;

– Thanh gươm chủ chiến (cùng với Nguyễn Tường Phổ, Nguyễn Văn Bằng, Nguyễn Xuân);

– Vua Duy Tân;

– Nguyễn Duy Hiệu;

– Trần Cao Vân;

– Ông Ích Khiêm;

– Trưng Nữ Vương (Hai Bà Trưng khởi nghĩa);

– Cao Doãn;

– Thái tử Câu La Na;

– Trần Quý Cáp; 

– Le Cide;

– Thị Kính – Thị Mầu,

– Nghêu sò ốc hến (cải biên); …

Ông còn chỉnh l‎ý nhiều vở tuồng cổ như:

– Nghêu sò ốc hến (làm chung với Tống Phước Phổ),

chuyển thể từ tích truyện cổ, những vở tuồng đồ nổi tiếng nhất như:

– Sơn hậu;

– Đông Lộ Địch

và cải biên vở:

– Hùng Vương thành Ngoại tổ dâng đầu,

– Tam nữ đồ vương thành Ngọn lửa Hồng Sơn (cùng Nguyễn Tường Phổ).

4. Giải thưởng:

Giáo sư, nhà soạn tuồng Hoàng Châu Ký đã được Đảng và nhà nước trao tặng:

– Huân chương Kháng chiến hạng nhất

– Huân chương Độc lập hạng nhì

– Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng

– Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt 1, năm 2001.

– Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 6, năm 2023